Hoàng Hữu Phước, MIB
Hôm Thứ Sáu vừa rồi qua mục Tin Buồn trên trang nhất báo Sàigòn Giải Phóng, tôi mới biết Anh Ba Huấn – tức Ông Nguyễn Văn Huấn, Phó Chủ Tịch Thường Trực Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh những năm 80 – đã qua đời một ngày trước đó.
Trong hai mươi năm đầu sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam chưa có Luật Đầu Tư Nước Ngoài hay các luật khác kể cả luật về thuế thu nhập, và nơi duy nhất bán hàng ngoại thu bằng ngoại tệ là Intershop trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 1, nơi sau năm 2000 trở thành Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ITC và đóng cửa sau trận hỏa hoạn kinh hoàng. Các đơn vị nước ngoài trú đóng và hoạt động trên địa bàn Thành phố trong thời điểm Việt Nam vẫn đang bị bủa vây bởi lịnh cấm vận của Chính phủ Hoa Kỳ, bao gồm các Tổng Lãnh Sự Quán, văn phòng các tổ chức Liên Hợp Quốc, vài cơ quan phi chính phủ, và dăm ba văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài chủ yếu thuộc các nước quan hệ hữu hảo với Việt Nam. Công việc “thường trực” của Anh Ba Huấn do đó vừa nhàn vừa nhọc – nhàn nếu tính theo số lượng các văn phòng nước ngoài, và nhọc nếu xét theo mức độ chi li, đa dạng, đa văn hóa, có yêu cầu cao và chính xác về thời gian, và nhất là nội dung tế nhị của “đối ngoại” khi “ngoại” tiếp cận để nhắc khéo về nợ nần hay để tìm kiếm các cơ hội đầu tư hoặc nêu những câu hỏi về luật lệ lúc ấy chưa được hệ thống hóa hay hoàn thiện để có thể cho ra những lời giải đáp phù hợp. Ấy vậy mà Anh Ba Huấn đã làm tốt vai trò khó khăn đó của Anh, chỉ với gương mặt tươi tắn, hồng hào, phúc hậu, tiếng cười hào sảng Nam Bộ, và tài ngoại giao hùng biện khéo léo, lịch lãm, mà tất cả những bạn nước ngoài tìm đến sẽ đều có chung một ý nghĩ rằng thật thất lễ nếu không làm vị Phó Chủ Tịch Thường Trực UBND ấy vui lòng. Tôi đã bao lần dự các buổi họp tại văn phòng UBND TP HCM và luôn được chứng kiến các vị Tổng Giám Đốc hay Chủ Tịch Tập Đoàn nước ngoài sau khi làm việc với Anh dù vẫn chưa thể nhận các phương án cụ thể về giải quyết thanh toán cho các dự án công nghiệp đã được dựng xây tại Thành phố Hồ Chí Minh và vài tỉnh lân cận, đã hoan hỷ nhận lời mời của Anh cùng nhau đi bộ qua Rex dùng tiệc chiêu đãi.
Sau này, khi không còn làm việc có quan hệ nhiều với ngoại giao và đầu tư công nghiệp, tôi bận rộn cho những kế hoạch kinh doanh riêng và không thể đến thăm Anh. Đến khi qua báo chí nghe Anh trả lời phỏng vấn là Ủy Ban đã xuất ngân sách cứu nhà máy sản xuất mũ bảo hiểm vì “nếu không, nó đã chết ngắc từ lâu”, tôi rất ân hận, giá như vài năm trước đó vẫn duy trì sự đến thăm Anh, may ra được Anh cho biết về kế hoạch xây nhà máy ấy của Ủy Ban để tôi có thể thông qua Anh tư vấn ngưng kế hoạch đó lại. Lý do của tôi rất đơn giản: không phải cứ thấy Việt Nam có gần trăm triệu dân là phải xây nhà máy sản xuất bán nón cho dân, vì (a) sản xuất hàng nhựa sẽ gây hại thêm cho môi trường sinh thái, (b) công nghệ để sản xuất mũ bảo hiểm có chất lượng cực cao bảo vệ tốt nhất cho dân thì không nằm trong khả năng tài chính của Ủy Ban nên sẽ chỉ có thể có được công nghệ bậc thường cho ra mũ giá rẻ và kém chất lượng, (c) phải mất nhiều thời gian mới tiến đến giai đoạn có luật quy định toàn dân đội mũ bảo hiểm khi sử dụng xe nên việc xây nhà máy sẽ phải đối phó với ít nhất hai thập niên không kinh doanh được hàng hóa đã sản xuất ra, (d) người dân Việt có tính chuộng hàng ngoại chất lượng cao, (e) Việt Nam không thể đáp ứng nhanh các mẫu mã, (f) cơ chế quản lý của Việt Nam khó đảm bảo chi phí thấp khi đã là công ty thì phải có đầy đủ ban bệ lãnh đạo với mua sắm nhiều ô-tô con và xây dựng văn phòng tiện nghi, và (g) Việt Nam không thể cấm nhập khẩu mũ bảo hiểm khiến mũ sản xuất trong nước khó thể nhắm đến mục tiêu bán mũ cho trăm triệu người dân. Mọi việc dù sao cũng đã lỡ, và Anh Ba Huấn hẵn đã rất buồn khi câu nói Nam Bộ “chết ngắc” của Anh đã bị chất vấn như một đầu tư không thành công về kinh tế, xây xong bỏ đó, trở thành gánh nặng cho ngân sách thành phố khi phải vừa trả nợ vay vừa nuôi cán bộ công nhân viên nhà nước của xí nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm ấy. Là “thường trực”, anh phải lo tất, đứng ra chịu tất.
Anh Ba Huấn, người từ những năm 1980 đã luôn trang trọng trong bộ veston khi một mình đàm đạo đón tiếp các đoàn khách (có sự tháp tùng của Anh Sáu Hậu – tức Ông Nguyễn Hậu, Chánh Văn Phòng Ủy Ban), biết sử dụng tiếng Anh trong chừng mực xã giao thân tình, với phong thái sang trọng, uy nghiêm, lịch lãm, như một nhà quý tộc Ăng-lê mà ai đã từng được gặp Anh đều mến mộ và nễ trọng.
Vĩnh biệt Anh Ba Huấn, người đứng mũi chịu sào của những ngày gian khó.
