HIỆP ƯỚC HỢP TÁC BẰNG SÁNG CHẾ (Patent Cooperation Treaty – PCT)
Hệ thống bảo hộ sáng chế có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất kinh doanh và thu hút công nghệ, đầu tư nước ngoài, đặc biệt đối với những nước đang đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH như Việt Nam. Để hệ thống bảo hộ sáng chế có hiệu quả, trước tiên phải đơn giản hóa các thủ tục đăng ký. Hiệp ước PCT (WIPO thông qua từ năm 1970) đã tạo nên một hệ thống nộp đơn quốc tế đơn giản với chi phí hợp lý khi người nộp đơn muốn đăng ký bảo hộ sáng chế của mình tại nhiều nước khác nhau. Hiện có 130 nước tham gia Hiệp ước.
Tham gia Hiệp ước PCT từ năm 1993, số lượng đơn đăng ký sáng chế của các chủ thể nước ngoài vào Việt Nam đã tăng nhiều (trong năm 2004, số đơn PCT được nộp vào Việt Nam là 1.110 đơn, gấp 6 lần năm 1993). Đến nay, Việt Nam cũng đã nhận được một cơ sở dữ liệu đầy đủ về các sáng chế liên quan đến PCT để xét duyệt các đơn đăng ký và phục vụ cho nghiên cứu.
· CÔNG ƯỚC PARIS VỀ BẢO HỘ SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP (Convention de Paris)
Công ước này được ký tại Paris năm 1883, hiện có trên 155 nước thành viên. Việt Nam trở thành thành viên của Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp kể từ ngày 08.03.1949. Những điều khoản chủ yếu của Công ước này tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:
Đối xử quốc gia: Mỗi nước thành viên của Công ước phải bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho công dân của các nước thành viên khác như bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho chính công dân nước mình.
Quyền ưu tiên: Nếu người nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nộp đơn đầu tiên của mình ở một nước thành viên của Công ước thì trong thời hạn nhất định sau ngày nộp đơn đầu tiên (12 tháng đối với sáng chế và mẫu hữu ích, 6 tháng đối với nhãn hiệu hàng hoá và kiểu dáng công nghiệp) có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ ở bất kỳ nước thành viên nào và những đơn nộp sau được xem như có ngày nộp đơn cùng với ngày nộp đơn của đơn đầu tiên.
Ngoài ra Công ước còn quy định một số điều khoản bắt buộc mà các nước thành viên tuân thủ như tính độc lập của Bằng độc quyền sáng chế do nhiều nước cấp cho cùng một sáng chế, quyền được ghi tên vào Văn bằng bảo hộ của tác giả...
· THOẢ ƯỚC MADRID VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ (Madrid Agreement Concerning the International Registration of Marks)
Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng ký quốc tế Nhãn hiệu hàng hoá tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ở Geneva. Theo Thoả ước này thì công dân của một nước thành viên của Thoả ước muốn bảo hộ một nhãn hiệu hàng hoá của mình tại nhiều nước thành viên khác, trước tiên phải đăng ký nhãn hiệu hàng hoá của mình tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó thông qua Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia có thể nộp đơn đăng ký quốc tế cho Văn phòng quốc tế của WIPO. Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn đăng ký quốc tế và chỉ rõ những nước thành viên mà người nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá của mình (nước được chỉ định). Nước được chỉ định có thời gian 1 năm để xem xét chấp nhận hoặc từ chối bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trên lãnh thổ của mình. Nếu sau 1 năm nước được chỉ định không có ý kiến thì nhãn hiệu hàng hoá coi như được chấp nhận bảo hộ ở nước đó.
Thoả ước Madrid hiện có 78 thành viên. Việt Nam tham gia Thoả ước này từ ngày 08.03.1949. .
· HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (The Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights- Hiệp định TRIPS)
Hiệp định TRIPS là một thỏa ước quốc tế của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra những tiêu chuẩn tối thiểu quy định về quyền sở hữu trí tuệ trong tất cả các nước thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (hiện có 149 thành viên) . Nó ra đời từ Vòng đàm phán Uruguay về Hiệp ước Tổng quan về Thuế quan và Thương mại (GATT) năm 1994, có hiệu lực từ 1/1/1995.
TRIPS giải quyết vấn đề bản quyền (copyright) và các quyền liên quan như quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất các bản ghi âm và các tổ chức phát sóng; các chỉ dẫn địa lý (geographical indications), bao gồm tên gọi xuất xứ; các kiểu dáng công nghiệp (industrial designs); các thiết kế mạch tích hợp(integrated circuit layout-designs); các sáng chế (patents) bao gồm cả bảo vệ các giống cây trồng mới; các nhãn hiệu hàng hóa (tradermarks); nhãn thương mại (trade dress) và những thông tin công khai hay bí mật bao gồm bí mật thương mại (trade secret) và các dữ liệu kiểm nghiệm.
· THOẢ ƯỚC LA HAY VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
Hệ thống đăng ký quốc tế La hay, cho phép chủ sở hữu bảo hộ các kiểu dáng công nghiệp của họ với thủ tục và chi phí thấp nhất. Chỉ cần một hồ sơ đăng ký quốc tế được nộp cho Cục Quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) đã có thể thay thế một loạt các hồ sơ trước đây ở một số quốc gia và/hoặc các tổ chức liên chính phủ tham gia hệ thống La Hay. Việc quản lý đăng ký quốc tế cũng trở nên dễ dàng hơn trong hệ thống này. Ví dụ, chỉ cần một thủ tục là có thể thay đổi tên hoặc địa chỉ của chủ sở hữu, hoặc thay đổi sở hữu đối với một số hoặc tất cả các bên tham gia ký kết đã được lựa chọn.
Tính đến ngày 26/4/2005, Hệ thống La Hay đã có 42 bên tham gia ký kết.
· CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG MỚI (International Convention for the Protection of New Varieties of Plants)
Công ước quốc tế về bảo hộ các giống cây mới đã thiết lập một hệ thống tài sản trí tuệ đã được quốc tế công nhận nhằm bảo vệ các giống cây mới. Công ước khuyến khích và dành phần thưởng cho những người nhân giống cây mới một cách khéo léo và sáng tạo. Bất cứ ai đưa ra giống cây mới có thể kháng bệnh, kháng hạn, kháng rét hoặc đơn giản đẹp hơn về mặt thẩm mỹ cũng đều là một nhà phát minh tương tự như ai đó đã cải thiện máy móc của xe hơi hoặc tìm ra loại thuốc mới. Sự khác biệt duy nhất là những người nhân giống cây làm việc với những sinh thể chứ không phải các chất vô tri vô giác.
Quá trình tạo ra một loại cây mới thường rất lâu và tốn kém. Tuy nhiên, việc tái tạo lại một giống cây đã có lại có thể nhanh và tương đối dễ dàng. Do đó, hệ thống bảo hộ tài sản trí tuệ hữu hiệu cần phải khuyến khích cho những đổi mới, sáng tạo bằng cách cho phép các nhà đầu tư hoàn vốn đầu tư và đồng thời truyền bá những kiến thức về phát minh đó cho những người khác để họ có thể hoàn thiện tốt hơn. Hệ thống đề ra ba nguyên tắc pháp lý cơ bản về bảo hộ nhằm khuyến khích những người nhân giống tăng cường óc sáng tạo của họ bằng cách trao cho họ độc quyền sở hữu phát minh về loại cây của họ trong khi vẫn khuyến khích tìm ra các loài cây mới.
Tính đến ngày 29/6/2005, đã có 59 quốc gia tham gia Công ước.
· HIỆP ƯỚC WASHINGTON VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI MẠCH TÍCH HỢP (Washington Treaty on Intellectual Property in Respect of Integrated Circuits)
· HIỆP ƯỚC BUDAPEST VỀ SỰ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI VIỆC NỘP LƯU CHỦNG VI SINH NHẰM TIẾN HÀNH CÁC THỦ TỤC VỀ PATENT (Budapest Agreement on the International Recognition of Micro-Organisms Depositing for Patent Procedure Purposes)
· CÔNG ƯỚC ROME VỀ BẢO HỘ NGƯỜI BIỂU DIỄN, NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI ÂM, TỔ CHỨC PHÁT SÓNG (International Convention for the Protection of Performers, Producers of Phonograms and Broadcasting Organizations)
· CÔNG ƯỚC BERNE VỀ BẢO HỘ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC VÀ NGHỆ THUẬT (Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works)
Công ước Berne là công ước bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được ký kết tại Berne, Thuỵ Sỹ, vào năm 1886.
Công ước bảo hộ mọi tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, không phân biệt hình thức và cách thức thể hiện. Các quyền được công nhận là các quyền độc quyền cho phép gồm: quyền dịch thuật; quyền thực hiện phóng tác và chuyển thể tác phẩm; quyền trần thuật công cộng tác phẩm văn học; quyền truyền thông công cộng trình diễn các tác phẩm; quyền phát sóng (với khả năng là quốc gia thành viên chỉ quy định quyền trả thù lao phù hợp, thay vì quyền cho phép); quyền làm bản sao bằng bất kỳ cách thức hoặc hình thức nào.
Thời hạn bảo hộ theo nguyên tắc chung là bảo hộ trong suốt thời gian của cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Tuy nhiên, có những ngoại lệ như đối với các tác phẩm điện ảnh, thời hạn bảo hộ là 50 năm, tính từ khi tác phẩm được công bố hoặc từ khi tác phẩm được sáng tạo nếu tác phẩm chưa công bố. Đối với các tác phẩm mỹ thuật ứng dụng và các tác phẩm nhiếp ảnh, thời hạn bảo hộ tối thiểu là 25 năm kể từ khi tác phẩm được sáng tạo.
Việt Nam gia nhập Công ước Berne từ 6/10/2004.
TIỂU MỤC